Chuyên mục
Chứng chỉ Carbon NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

Dấu chân Carbon là gì? Làm thế nào để giảm dấu chân Carbon?

Dấu chân Carbon là gì?

Dấu chân carbon, hay còn được gọi là carbon footprint, là một thuật ngữ dùng để mô tả lượng khí nhà kính phát ra từ việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm công nghiệp hoặc dịch vụ. Các khí này bao gồm CO2, methane (CH4), nitrous oxide (N2O) và hydrofluorocarbons (HFCs). Chúng có tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người và góp phần vào hiện tượng ấm lên toàn cầu bằng cách giữ nhiệt trong khí quyển.

Carbon footprint được tính như thế nào?

dau chan carbon

Carbon footprint được hình thành từ nhiều hoạt động hàng ngày của con người, đóng góp vào sự gia tăng của lượng khí thải carbon dioxide và các khí thải khác vào môi trường. Việc sử dụng phương tiện giao thông, điện, thực phẩm, du lịch, mua sắm, cũng như sử dụng điện thoại và máy tính đều góp phần vào việc tạo ra dấu chân carbon.

Khi sử dụng phương tiện giao thông, việc đốt nhiên liệu gây ra lượng CO2 đáng kể. Sử dụng điện trong nhà cũng tạo ra lượng CO2 từ quá trình sản xuất điện từ các nguồn hóa thạch. Sản xuất thực phẩm và vận chuyển chúng tạo ra khí thải từ quá trình này. Du lịch gây ra lượng CO2 từ vận hành các phương tiện di chuyển. Sản xuất và vận chuyển sản phẩm mới, cũng như việc sử dụng điện thoại và máy tính, cũng đóng góp vào dấu chân carbon (carbon footprint) của mỗi cá nhân và tổ chức.

Việc nhận biết và hiểu rõ về các hoạt động gây ra dấu chân carbon giúp chúng ta áp dụng các biện pháp giảm thiểu hiệu quả, từ việc chuyển sang sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, sử dụng sản phẩm tái chế, đến việc thay đổi thói quen sinh hoạt hàng ngày. Điều này giúp giảm tác động tiêu cực của chúng ta đối với môi trường và hỗ trợ trong việc giảm biến đổi khí hậu.

>>> Chủ đề: Nông nghiệp bền vững

Tác hại của carbon footprint

  • Đối với môi trường

Sự gia tăng lượng khí thải carbon đang gây ra những thay đổi lớn trong môi trường sống của chúng ta. Nhiệt độ và mực nước biển đều tăng, dẫn đến xói mòn bờ biển và nguy cơ phá hủy hệ sinh thái. Điều này có thể buộc các thành phố ven biển phải di dời đến những vị trí cao hơn để tránh nguy cơ ngập lụt. Hệ thống thảm thực vật cũng đang thay đổi, ảnh hưởng đến việc sinh sống của nhiều loài động vật. Ví dụ, sự tan chảy của băng ở Bắc cực đang đe dọa môi trường sống của gấu Bắc Cực và các loài khác.

  • Đối với con người

Dấu chân Carbon không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn đến sức khỏe của con người. Tại các thành phố lớn của Việt Nam, nơi có nhiều khu công nghiệp và mật độ giao thông cao, nồng độ CO2 và hạt bụi siêu mịn PM2.5 tăng cao. Những hạt bụi này có thể xâm nhập sâu vào phổi, gây khó thở, đặc biệt là đối với những người có vấn đề về hô hấp, và tăng nguy cơ mắc các bệnh như hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Ngoài ra, chúng cũng có thể gây tổn thương cho hệ hô hấp và thậm chí làm hại cho não bộ.

Cách giảm carbon footprint

cach giam carbon footprint

Cần có những biện pháp cụ thể để nếu các Carbon footprint, chúng ta cần nhận thức về các hành động đang thực hiện và có thể thực hiện. Mỗi tổ chức, doanh nghiệp, và cá nhân đều phải chú ý đến việc giảm lượng khí thải nhà kính và tiết kiệm chi phí trong dài hạn.

  • Nâng cấp trang thiết bị tiết kiệm năng lượng: Thay vì sử dụng các thiết bị cũ tiêu tốn nhiều điện, chúng ta nên đầu tư vào thiết bị mới có công nghệ tiến bộ hơn, nhằm tiết kiệm điện năng và tăng hiệu suất sản xuất.
  • Chuyển đổi sang năng lượng tái tạo: Sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời không chỉ giảm lượng khí thải mà còn giúp tiết kiệm chi phí. Điều này đang trở thành xu hướng phổ biến và được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.
  • Thúc đẩy tiết kiệm năng lượng và sản phẩm tái chế: Tại gia đình, việc sử dụng năng lượng tái tạo và ưu tiên sản phẩm tái chế có thể giảm thiểu dấu chân carbon. Trong ngành du lịch, việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng và ủng hộ hoạt động du lịch bền vững cũng đóng vai trò quan trọng.

Tóm lại “Dấu chân Carbon” không chỉ là một khái niệm mà còn là một lời nhắc nhở về trách nhiệm của chúng ta đối với môi trường và sức khỏe. Hiểu và giảm thiểu “dấu chân carbon” là cam kết của chúng ta với một tương lai bền vững và lành mạnh cho hành tinh. Hãy hành động ngay hôm nay để tạo ra sự thay đổi lớn và bảo vệ môi trường cho thế hệ tương lai.

Chuyên mục
Chứng chỉ Carbon ESG NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

Thị trường tín chỉ carbon cần ‘Dẫn đầu’ để bảo đảm lợi ích quốc gia, doanh nghiệp

Theo (Chinhphu.vn) – Sáng 8/1, Cuộc họp về Đề án thành lập thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam được chủ trì bởi Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, người đã chủ trì buổi nghe báo cáo.

pho thu tuong tran hong ha
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh rằng cam kết về việc cắt giảm phát thải khí nhà kính là quan điểm và chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước. Ông cũng đồng thời nhận định rằng đây là một cơ hội quan trọng để Việt Nam chuyển đổi sang mô hình phát triển phù hợp với tương lai. Điều này được thể hiện qua. ảnh chụp của VGP/Minh Khôi.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, cần chú ý việc hình thành thị trường tín chỉ carbon cụ thể là thực hiện các cam kết giảm “phát thải ròng” khí nhà kính chỉ bằng 0 (Net Zero) đúng với thực tế, bằng công cụ kinh tế nhằm mục đích quản lý phát thải khí nhà kính đối với các doanh nghiệp.

Với mục tiêu xây dựng thị trường tín chỉ carbon minh bạch, chúng ta cần dựa vào việc xác định tổng lượng phát thải và phân bổ hạn ngạch phát thải cho từng địa phương, lĩnh vực, thậm chí từng chủ thể phát thải. Điều này giúp tăng tính minh bạch và công khai, thúc đẩy sử dụng các công cụ kinh tế để thay đổi nhận thức và hành vi liên quan đến phát thải khí nhà kính.

Theo Phó Thủ tướng, hiệu quả thị trường tín chỉ carbon chỉ có thể đạt được khi áp dụng một cách đồng bộ, rộng rãi và công bằng trên quy mô toàn cầu. Tuy nhiên, đến nay chỉ một số quốc gia và khu vực mới bắt đầu sử dụng các công cụ kinh tế để quản lý lượng phát thải khí carbon sinh ra của một số sản phẩm hàng hóa.

trich dan cau noi pho thu tuong

Phó Thủ tướng đã đề nghị các lãnh đạo các bộ, ngành tập trung thảo luận về mục đích và mục tiêu của chính sách giảm phát thải khí carbon tại Việt Nam, đồng thời liên kết với mối quan hệ khu vực và toàn cầu. Các điểm tập trung bao gồm mô hình thị trường, liệu doanh nghiệp sẽ tự nguyện tham gia hay Chính phủ dẫn dắt, liệu quá trình vận hành sẽ diễn ra trong nước hay tham gia ngay vào thị trường quốc tế. Làm rõ lộ trình thực hiện, trong đó bao gồm những nhiệm vụ cần thực hiện ngay, như xây dựng cơ sở pháp lý, tổ chức bộ máy, và xác định/phân bổ hạn ngạch phát thải đến từng chủ thể phát thải.

thu truong bo tai chinh le tan can
Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận: Mục tiêu của thị trường tín chỉ carbon là nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy phát triển kinh tế carbon thấp và ứng phó chủ động với biến đổi khí hậu.Ảnh: VGP/MK

Đề xuất thiết lập sàn giao dịch quốc gia cho tín chỉ carbon

Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận đã thông tin rằng thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam được xây dựng linh hoạt, đồng thời đáp ứng đúng với điều kiện và hướng phát triển của đất nước. Cam kết giảm lượng phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế và hòa nhập với xu hướng thị trường tín chỉ carbon toàn cầu, nhằm kích thích sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế nội địa trong hoạt động giảm nhẹ phát thải.

Bảo đảm sự công bằng, minh bạch và an toàn cho thị trường tín chỉ carbon trong nước, đồng thời đảm bảo hiệu quả và phù hợp với điều kiện quốc gia cũng như quy định quốc tế. Mục tiêu là hòa hợp lợi ích của các chủ thể trên thị trường, tạo điều kiện để quốc gia gia tăng sức cạnh tranh thông qua phát triển kinh tế có lượng phát thải thấp carbon và mô hình tăng trưởng xanh, gắn liền với phát triển bền vững.

Thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam chia thành hai loại hàng hóa chính: Hạn ngạch phát thải khí nhà kính và Tín chỉ carbon được Bộ Tài Nguyên và Môi trường xác nhận và giao dịch trên sàn giao dịch của thị trường tín chỉ carbon trong nước.

Chủ thể tham gia thị trường tín chỉ carbon bao gồm các cơ sở thuộc Danh mục lĩnh vực, đặc biệt là cơ sở phát thải khí nhà kính đã kiểm kê khí nhà kính; tổ chức thực hiện chương trình và dự án tạo tín chỉ carbon; tổ chức và cá nhân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia hoạt động đầu tư và kinh doanh tín chỉ carbon; cũng như các tổ chức hỗ trợ giao dịch.

Dựa trên thực tế quốc tế, nhiều nước đã thành công trong việc thiết lập sàn giao dịch tín chỉ carbon. Bộ Tài chính đề xuất triển khai mô hình này tại Việt Nam với mục tiêu chung là phát triển thị trường tín chỉ carbon. Đề án nhằm đóng góp vào mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính với chi phí thấp đối với doanh nghiệp và xã hội, đồng thời thúc đẩy phát triển công nghệ phát thải thấp. Nỗ lực này cũng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, hướng tới phát triển nền kinh tế carbon thấp và chuẩn bị chủ động cho biến đổi khí hậu.

lanh dao cac bo, nganh dang tien hanh phan tich van de
Lãnh đạo các bộ, ngành đang tiến hành phân tích những vấn đề tồn tại và vướng mắc trong quá trình hình thành thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam.Ảnh: VGP/Minh Khôi

Nhanh chóng tạo ra khuôn khổ và hành lang pháp lý

Một số thách thức được đại diện các bộ, ngành tập trung phân tích bao gồm: hệ thống cơ chế chính sách quản lý tín chỉ carbon trong nông nghiệp, lâm nghiệp vẫn chưa đồng bộ và tản mạn trong nhiều văn bản; nhiều vùng sản xuất nông nghiệp và diện tích rừng chưa tham gia phát triển tín chỉ carbon; sự thiếu hụt của sàn giao dịch hạn mức phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon; hạn chế trong đo đạc, kiểm đếm, thẩm định, chứng nhận tín chỉ carbon; khó khăn trong việc xác định hàm lượng carbon trong hàng hóa. 

Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Lê Công Thành đã chia sẻ rằng một số điểm chính trong quá trình hình thành thị trường tín chỉ carbon bao gồm: quản lý các hoạt động hình thành và tạo tín chỉ carbon; xây dựng kế hoạch giảm phát thải theo từng lĩnh vực; cùng với cơ chế trao đổi tín chỉ carbon của thị trường quốc tế.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thị Bích Ngọc nhấn mạnh rằng cần thiết lập cơ sở phân bổ hạn ngạch phát thải để làm cơ sở cho việc xây dựng cơ chế chính sách, thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ và quản lý hoạt động phát thải. Đồng thời, thị trường tín chỉ carbon Việt Nam cần liên kết với thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư sản xuất và kinh doanh một cách an tâm.

Đề án cần tập trung xác định cũng như có cái nhìn rõ hơn về mô hình thị trường, đặc biệt là lên lịch trình triển khai, bao gồm việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan và đánh giá tác động toàn diện đối với các ngành sản xuất, các hiệp định, và cam kết quốc tế, Thứ trưởng Nguyễn Thị Bích Ngọc chia sẻ trong buổi trao đổi.

pho thu tuong tran hong ha
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã nhấn mạnh rằng trong quá trình thực hiện trách nhiệm cam kết toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, cần phải bảo vệ lợi ích quốc gia một cách công bằng, công khai và minh bạch.

Thành lập và phát triển thị trường tín chỉ carbon một cách đồng bộ và toàn diện.

Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh rằng các cam kết về cắt giảm phát thải khí nhà kính là quan điểm và chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, với việc coi biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất và cần tiếp cận toàn cầu. Ông cũng nhấn mạnh rằng đây không chỉ là một thách thức mà còn là cơ hội để Việt Nam chuyển sang mô hình phát triển phù hợp trong tương lai.

“Đề án cần cập nhật chính sách và thỏa thuận toàn cầu, cũng như các chiến lược, quy hoạch ngành và lĩnh vực đã được ban hành, với định hướng ứng phó với điều kiện biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, cân bằng phát thải khí nhà kính với sự phục hồi từ môi trường. Thành lập thị trường tín chỉ carbon là bước cụ thể để chuẩn bị cho những chính sách toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, phân bổ hạn mức phát thải, trao đổi về tín chỉ carbon, và tạo nguồn lực tài chính xanh bền vững để doanh nghiệp đổi mới công nghệ,” Phó Thủ tướng gợi mở.

Trước sự phức tạp của Đề án, Phó Thủ tướng đã yêu cầu Báo cáo Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện cam kết tại COP 26, sau khi thu thập ý kiến của các bộ, ban, và ngành. Đề án nhằm thể chế hóa chính sách về trao đổi hạn ngạch phát thải, tín chỉ carbon, nhằm thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi nền kinh tế, và tạo ra những nguồn lực xanh mới.

Đề án cung cấp câu trả lời cho những thắc mắc về phạm vi triển khai, sản phẩm, và mô hình hoạt động, nhằm tạo ra khuôn khổ, môi trường pháp lý, năng lực tổ chức, cơ chế vận hành, và yêu cầu năng lực kỹ thuật để thành lập và phát triển đồng bộ thị trường tín chỉ carbon. Điều này bao gồm từ khâu đánh giá, phân bổ hạn ngạch phát thải, đến hình thành, chứng nhận tín chỉ carbon, và phương thức giao dịch. Ngoài ra, Đề án còn rõ ràng về quyền, nghĩa vụ, và trách nhiệm của các chủ thể tham gia như doanh nghiệp, nhà nước, và người dân.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, “Việc giảm phát thải khí nhà kính là sự thực hiện trách nhiệm cam kết toàn cầu, tuy nhiên, điều này cũng cần phải đảm bảo bảo vệ lợi ích quốc gia một cách công bằng, công khai, và minh bạch.”

Nhấn mạnh vai trò dẫn dắt và kiến tạo của Nhà nước, Phó Thủ tướng cho rằng cần thực hiện đánh giá tác động của các công cụ kinh tế, tài chính, và thuế để đảm bảo sự hài hòa trong nước với quốc tế, cũng như tính minh bạch trong trách nhiệm và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài Nguyên và Môi trường nâng cao năng lực xác định và phân bổ hạn ngạch phát thải cho các ngành, lĩnh vực theo kế hoạch cụ thể và rõ ràng. Đồng thời, Bộ được yêu cầu thực thi các quy định và tiêu chuẩn về cơ chế thống kê, đo đếm, và chứng nhận về hạn ngạch phát thải, tín chỉ carbon theo tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực vận tải, điện tử, và nông nghiệp.

Bộ Tài chính cần huy động sự tham gia của đại diện từ các bộ, ngành liên quan và đội ngũ chuyên gia về cắt giảm khí nhà kính, kinh tế,… và luật pháp quốc tế về biến đổi khí hậu. Mục tiêu là thực hiện nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, và kỹ lưỡng để hình thành các chính sách liên quan đến thị trường tín chỉ carbon. Nghiên cứu này có thể bao gồm các khía cạnh như phân bổ hạn ngạch phát thải, mô hình vận hành, các công cụ kinh tế, và tài chính. Điều này hỗ trợ việc đề xuất cách tiếp cận, quan điểm, mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, và lộ trình thực hiện cụ thể trong Đề án.

Nguồn: baochinhphu.vn

Chuyên mục
Chứng chỉ Carbon NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

Bán tính chỉ các-bon rừng thu về 1.200 tỷ đồng cho ERPA

Ngày 27/12, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị tại Hội nghị tổng kết 2023 thông báo Việt Nam lần đầu bán thành công 10,3 triệu tín chỉ các-bon rừng, thu về 51,5 triệu USD (1.250 tỷ đồng). Thành tựu này không chỉ đóng góp chống biến đổi khí hậu mà còn mở ra nguồn thu nhập mới, đề xuất sự phát triển bền vững cho ngành lâm nghiệp và cộng đồng xung quanh.

Năm 2023 chứng kiến một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực lâm nghiệp của Việt Nam, theo Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị. Lần đầu tiên, nước ta đã thành công trong việc bán 10,3 triệu tín chỉ các-bon rừng (tương đương 10,3 triệu tấn CO2) thông qua Ngân hàng Thế giới, với mức giá 5 USD/tấn, đem lại tổng thu nhập là 51,5 triệu USD (khoảng 1.250 tỷ đồng).

Sự thành công này được thực hiện thông qua thỏa thuận chi trả phát thải nhà kính (ERPA) vùng Bắc Trung Bộ, ký kết vào ngày 22/10/2020 giữa Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD) trực thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ NN&PTNT. Đây không chỉ là bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ hội kinh tế mới và chứng minh sự cam kết của Việt Nam đối với phát triển bền vững.

moi truong la ban

Đầu tháng 8, Ngân hàng Thế giới (WB) đã chuyển thanh toán đợt một của Thỏa thuận chi trả phát thải nhà kính (ERPA) cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, với số tiền là 41,2 triệu USD (khoảng 997 tỷ đồng). Đây đạt 80% mục tiêu giảm phát thải theo ERPA đã ký. Phần còn lại, tức 10,3 triệu USD (khoảng 249 tỷ đồng), sẽ được thanh toán sau khi quá trình chuyển giao 10,3 triệu tấn CO2 được hoàn thành.

Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã nhận được thanh toán đợt 1 từ WB và đã nhanh chóng giải ngân toàn bộ số tiền này. Hiện tại, các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ đang khẩn trương lập kế hoạch chi trả cho các chủ rừng, đánh dấu bước quan trọng trong quá trình triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững.

Trong số sáu tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Nghệ An đã nhận được giải ngân hơn 282 tỷ đồng, tiếp theo là Quảng Bình với hơn 235 tỷ đồng, Thanh Hóa 162 tỷ đồng, Hà Tĩnh 122 tỷ đồng, Thừa Thiên Huế 107 tỷ đồng và Quảng Trị hơn 51 tỷ đồng từ Ngân hàng Thế giới. Số tiền này sẽ được chi trả cho các chủ rừng, UBND cấp xã và tổ chức có trách nhiệm quản lý rừng tự nhiên, cũng như các nhóm liên quan đến phát triển, giảm mất rừng, và nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho cộng đồng làm nghề rừng.

Ngoài việc thông báo về số tín chỉ đã bán, Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận kết quả tích cực trong việc giảm phát thải toàn vùng Bắc Trung Bộ kỳ 1 (từ 1/1/2018 đến 31/12/2019) đạt 16,21 triệu tấn CO2, tương đương với 16,21 triệu tín chỉ. Trong đó, lượng chuyển nhượng theo Thỏa thuận chi trả phát thải nhà kính (ERPA) đã ký là 10,3 triệu tấn CO2, đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường và giảm biến đổi khí hậu.

Với số lượng CO2 còn lại là 5,91 triệu tấn, Ngân hàng Thế giới (WB) đề xuất mua bổ sung 1 triệu tấn CO2, tạo ra tổng cộng 4,91 triệu tấn CO2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang đề xuất cho Chính phủ chấp thuận xây dựng phương án trao đổi, chuyển nhượng và thương mại nhằm tạo nguồn lực chất lượng để bổ sung cho công tác bảo vệ và phát triển rừng già tại vùng Bắc Trung Bộ.

Tín chỉ các-bon rừng được tạo ra từ các hoạt động dự án giảm phát thải nhà kính, bao gồm giảm mất rừng và suy thoái rừng, tăng cường hoạt động phục hồi rừng, tái tạo môi trường tự nhiên vốn có của rừng và hoạt động quản lý rừng phải được tăng cường. Chủ rừng có thể quy đổi diện tích rừng đang quản lý và bảo vệ thành lượng hấp thụ khí CO2, tạo ra tín chỉ các-bon có thể bán trên thị trường các-bon thông qua cơ chế giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính.

Quá trình này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra nguồn thu nhập mới cho cộng đồng nông dân và những người chủ rừng, thúc đẩy phát triển theo hướng bền vững trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Ông Phạm Hồng Lượng, đại diện từ Cục Lâm nghiệp, thể hiện sự hài lòng của Việt Nam đối với việc chuyển nhượng tín chỉ các-bon, được Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá cao. Ông Lượng chia sẻ rằng câu chuyện thành công của Việt Nam không chỉ mang lại lợi ích cho quốc gia mà còn là nguồn động viên, mong muốn được chia sẻ và lan tỏa đến các quốc gia khác trên thế giới.

Việt Nam, với hơn 14,7 triệu hecta rừng và tỉ lệ che phủ lên đến 42%, được ông Lượng mô tả là một trong những quốc gia giàu tiềm năng về rừng. Sự thành công trong việc chuyển nhượng tín chỉ các-bon không chỉ là minh chứng cho nỗ lực của Việt Nam trong bảo vệ môi trường mà còn là điển hình để truyền cảm hứng cho cộng đồng quốc tế.

Nguồn: Mard.gov.vn

Chuyên mục
Chứng chỉ Carbon NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

Nền tảng HowGood nhằm giảm khí thải từ đất.

Việc các doanh nghiệp không đạt được mục tiêu bền vững là một vấn đề khá phổ biến, nhưng có một sự cấp thiết mới xung quanh nó trước tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra nhanh chóng và trách nhiệm của lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm đối với một phần ba lượng khí thải toàn cầu phải được chú ý. Trong khi người tiêu dùng, nhà đầu tư và chính phủ đang đòi hỏi sự truy xuất và bền vững hơn trong chuỗi cung ứng thực phẩm, các công ty vẫn đau đầu trong việc đo lường tác động xã hội và môi trường của họ.

Khi nói đến các ngành công nghiệp tổn hại đất đai, mức độ cấp bách còn lớn hơn. Các ngành lâm nghiệp, đất đai và nông nghiệp chiếm khoảng một phần tư lượng khí thải toàn cầu; chúng cũng có tiềm năng khổng lồ trong việc loại bỏ và lưu trữ carbon trong đất.

Rào cảng các công ty đang đối mặt

Như ông Ethan Soloviev, giám đốc sáng tạo chính của HowGood, nói với AgFunderNews năm ngoái, “công việc này khá tẻ nhạt, việc sắp xếp các nghiên cứu lớn, nhỏ  đang tạo ra trở ngại trong việc thực hiện các thay đổi bền vững.”

HowGood gần đây đã phát hành một công cụ để giải quyết vấn đề này. Bảng điều khiển phát thải FLAG của họ, có sẵn trong nền tảng SaaS của công ty là Latis, nhằm giúp các công ty thực phẩm và đồ uống xác định các cơ sở dữ liệu phát thải chính xác và đề ra chiến lược để cải thiện các thực hành bền vững.

Sản phẩm này ra mắt trước khi có các cập nhật cho các hướng dẫn FLAG (Forest, Land, and Agriculture) được thiết lập bởi sáng kiến Mục tiêu Dựa trên Khoa học (SBTi), mà hợp tác với các công ty để đặt ra mục tiêu giảm lượng phát thải. Hướng dẫn này nhằm cung cấp cho các công ty một “hiểu biết dựa trên khoa học” về việc họ cần cắt giảm phát thải liên quan đến đất đai nhanh chóng để duy trì mục tiêu Thỏa thuận Paris về giới hạn nhiệt độ toàn cầu tăng 1,5°C so với mức tiền công nghiệp.

Cùng theo dõi các ứng dụng đất với ‘dữ liệu chi tiết’

“Lợi ích lớn nhất của công cụ của chúng tôi mang lại là dữ liệu rất chi tiết,” Lizz Aspley, nhà khoa học dữ liệu hàng đầu tại HowGood, cho biết AgFunder News.

Công cụ Latis của HowGood sử dụng hơn 600 nguồn dữ liệu để cung cấp thông tin cho các công ty về hơn 33.000 thành phần. Fairtrade America, Ủy ban Châu Âu, Cục Thống kê Nông nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ và Biodiversity International là một số ví dụ về đối tác cung cấp dữ liệu của tổ chức.

Điều này giúp các công ty thực phẩm tính toán tác động xã hội và môi trường của họ. Điều chỉnh sản phẩm của họ để phù hợp hơn với các mục tiêu bền vững về phát thải, sử dụng nước, rủi ro lao động và các yếu tố khác.

Cơ sở dữ liệu FLAG mới bổ sung thêm mục sử dụng đất vào thanh công cụ.

” Hãy nhìn vào những lợi ích mà công cụ FLAG mang lại , bạn có thể xem [phát thải FLAG], với rất nhiều doanh mục lớn nhỏ,” Aspley, người dẫn đầu công việc trên công cụ này chia sẽ: “Chúng tôi chia nhỏ nó thành quản lý đất và thay đổi sử dụng đất. Nhưng sau đó, công cụ của chúng tôi cũng hỗ trợ bạn tái cấu trúc sản phẩm và xem xét thật kĩ cách mà nó ảnh hưởng đến phát thải đó.”
 HowGood

Cách hoạt động

“Khách hàng có thể sử dụng cơ sở dữ liệu FLAG để xác định cơ sở về lượng phát thải của họ liên quan đến rừng đất và nông nghiệp,” Aspley nói. Tuy nhiên, sau khi họ đã xác định mục tiêu với SBTi, họ có khả năng sử dụng công cụ này để tích hợp những mục tiêu đó vào hệ thống Latis và thực hiện các biện pháp hướng đến mục tiêu giảm lượng khí thải thực tế của họ.

Giả sử một công ty thực phẩm có 50 sản phẩm khác nhau được sản xuất cho cùng một CPG. Công ty có thể tải lên các công thức của 50 sản phẩm này vào công cụ Latis của HowGood.

Phân tích xem có bao nhiêu thành phần của mỗi nguyên liệu được đưa vào sản phẩm cuối cùng, hệ thống của HowGood sau đó đánh giá tác động môi trường và xã hội của nó dựa trên các chỉ số sau: phát thải khí nhà kính; xử lý (ví dụ, năng lượng được sử dụng để sản xuất sản phẩm), sử dụng nước xanh, tác động đa dạng sinh học, sức khỏe đất, sử dụng đất, phúc lợi động vật và rủi ro lao động.

Đối với mỗi chỉ số, sản phẩm nhận được một điểm số từ 1-10, với 10 là điểm cao nhất, hoặc “phục hồi”. Các điểm số chỉ số cá nhân đó sau đó được tổng hợp thành một điểm tác động tổng thể trên tổng số 100.

Sau khi tất cả các công thức đã được đưa vào, các công ty có thể nhìn thấy một cơ sở mà có thể được đưa vào công cụ FLAG của SBTi, mà sẽ cung cấp một mục tiêu giảm lượng phát thải.

Latis là gì ?

Trong khi đó, Latis có thể cho một công ty biết khoảng cách giữa mục tiêu và nơi mà công ty đang đứng hiện tại. Ví dụ, nó sẽ cho một công ty biết nguyên liệu tạo ra lượng khí thải carbon nhiều nhất và giúp người dùng mô phỏng các công thức thay thế và các kịch bản cung cấp nguồn hàng.

“Aspley nói, “Chúng tôi thực sự đào sâu vào chi tiết và cung cấp một phân tích rất chi tiết. “Không phải tất cả miến thịt đều giống nhau”,

Từ việc đo lường đến việc giảm lượng phát thải

Mục tiêu bền vững của doanh nghiệp hiếm khi tính đến lượng phát thải liên quan đến đất đai, bao gồm những thứ như phá rừng để sử dụng đất và phát thải khí metan và phân bón, giữa các lĩnh vực khác. Đối với một số người, các phát thải này – thường rơi vào Phạm vi 3 – lên đến 80% tổng lượng phát thải của một công ty.

Aspley cho biết, “theo ý kiến của tôi, cơ sở dữ liệu FLAG sẽ đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt khi khách hàng tiến xa hơn và hợp tác với các nhà cung cấp của họ.”

“Ngành đất đai tận dụng những giải pháp dựa trên tự nhiên hiệu quả nhất và hiệu quả nhất để loại bỏ và lưu trữ carbon. Việc giảm phá rừng là một trong những hoạt động giảm nhẹ biến đổi khí hậu quan trọng nhất mà chúng tôi trong ngành thực phẩm có,” Soloviev nói, “Chúng tôi thúc đẩy bởi những gì FLAG cung cấp để đo lường lượng khí nhà kính theo tiêu chuẩn khoa học với độ chính xác cao , với những gì Latis có thể làm là đưa ra một công cụ hướng thực hiện các hành động hỗ trợ những người đang cố gắng đo lường còn giảm phát thải từ ngành đất đai.”

Nguồn: Agfundernews

Chuyên mục
Chứng chỉ Carbon NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

Biến Động Nổi Bật Trong Thị Trường Giao Dịch Tín Chỉ Carbon

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang tập trung vào hoạt động mua bán khí thải (ETS) để giảm thiểu lượng khí thải và đối phó với biến đổi khí hậu. Doanh nghiệp Việt Nam cần tham gia tích cực vào thị trường này, không chỉ để tuân thủ quy định quốc tế mà còn để tạo lợi ích kinh doanh và ứng phó với áp lực môi trường ngày càng tăng. Việc hiểu và tham gia vào ETS là quan trọng cho sự phát triển bền vững của các công ty vào mục tiêu giảm biến đổi khí hậu toàn cầu.

nha kin

Thiết lập thể chế

Hai năm nữa, Châu u sẽ thực hiện chính sách áp thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu, bao gồm những nguyên liệu quan trọng như thép, xi măng, phân bón, sắt, nhôm và đồ điện. Đây là một phần của nỗ lực của họ để kiểm soát và giảm thiểu lượng khí thải gây biến đổi khí hậu. Sự khởi đầu này đã gây ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp trên khắp thế giới, không chỉ ở Châu u.

Tương tự, Canada, Mỹ, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác cũng đã thực hiện các hoạt động liên quan đến thị trường tín chỉ carbon, thúc đẩy việc giảm phát thải khí nhà kính. Dù doanh nghiệp Việt Nam có mong muốn hay không, họ cũng phải đối mặt với thực tế rằng thị trường này đang ngày càng trở nên quan trọng.

Việc xây dựng và vận hành thị trường carbon trong nước đã trở thành một phần của nỗ lực của Việt Nam trong việc giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường. Năm 2020, Luật Bảo vệ Môi trường đã quy định cơ sở cho việc tổ chức và thực hiện thị trường carbon. Vào năm 2021, Nghị quyết 50-NQ/CP của Chính phủ đã đặt ra một trong những nhiệm vụ chính là phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, nhằm giảm phát thải, bảo vệ môi trường, đối phó biến đổi khí hậu.

Cụ thể, Nghị định 06/2022/NĐ-CP, ban hành vào tháng 1 năm 2022, đã đặt ra lịch trình rõ ràng. Từ năm 2025, sẽ tổ chức sàn giao dịch tín chỉ carbon thí điểm. Đến năm 2027, sẽ xây dựng quy định quản lý tín chỉ carbon, hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, triển khai thị trường carbon và hỗ trợ cơ chế trao đổi tín chỉ carbon. Từ năm 2028, Việt Nam sẽ tổ chức sàn giao dịch tín chỉ carbon chính thức và kết nối với thị trường carbon quốc tế.

Vào tháng 3 năm 2023, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trần Hồng Hà, đã tham dự Hội nghị về “Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 châu Á” (AZEC). Tại hội nghị, ông đã nhấn mạnh rằng các nước trong cộng đồng cần xây dựng lộ trình giảm phát thải khí nhà kính, không chỉ dưới góc độ môi trường mà còn dưới góc độ kinh tế – xã hội. Việt Nam quyết tâm theo đuổi lộ trình này, bất chấp những thách thức và khó khăn.
phat thai

Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi:

Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu và tác động của nó đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trên toàn cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài trào lưu này. Trong bối cảnh đó, việc hình thành thị trường carbon trong nước trở thành một phần quan trọng của nỗ lực của Việt Nam trong việc giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy nền kinh tế trung hòa carbon. Thị trường carbon là một công cụ quan trọng để đảm bảo sự tương thích với các cơ chế định giá carbon quốc tế, giúp tạo ra cơ hội liên kết với thị trường carbon toàn cầu, thậm chí trong khu vực và tăng cường tính cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Công cuộc hình thành thị trường carbon trong nước đòi hỏi sự đồng thuận và hợp tác đa phương giữa chính phủ, doanh nghiệp, và các bên liên quan. Phải có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các cấp chính quyền để đảm bảo rằng doanh nghiệp và tổ chức có đủ tài nguyên và kiến thức cần thiết để tham gia hiệu quả. Cơ cấu pháp lý cũng cần phải được đặt ra một cách rõ ràng để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc tham gia thị trường carbon.

Trong cuộc chuyển đổi này, doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng. Bước đầu tiên là họ   cần đảm bảo có đủ nhân sự có khả năng thực hiện kiểm kê khí nhà kính và xây dựng kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính. Họ cũng cần đầu tư vào các biện pháp giảm phát thải hoặc mua hạn ngạch từ cơ sở khác hoặc tín chỉ carbon thông qua thị trường carbon. Nếu doanh nghiệp không tuân thủ, họ sẽ phải chịu mức phạt cho mỗi tấn CO2 tương đương phát thải vượt hạn ngạch. Theo thời gian, lượng hạn ngạch sẽ giảm dần theo lộ trình giảm phát thải quốc gia.

 

Ngoài việc tham gia vào thị trường carbon bắt buộc, có cũng thị trường tự nguyện, mà các tổ chức và cá nhân có thể tham gia để bù trừ carbon tự nguyện. Trong thị trường này, tín chỉ carbon được mua và bán. Chúng được tạo ra từ các dự án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và được công nhận bởi cơ quan quốc tế hoặc quốc gia. Các tổ chức, đơn vị, và doanh nghiệp mua tín chỉ này với mục tiêu tham gia vào việc giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ giảm tác động của biến đổi khí hậu.

Các tiêu chuẩn và hệ số phát thải đối với các sản phẩm kinh doanh cũng đang được hình thành trong quá trình này. Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ quan chính phủ để thiết lập và thực hiện các tiêu chuẩn cụ thể cho từng lĩnh vực và ngành nghề.

Việc hình thành thị trường carbon không chỉ có lợi ích cho môi trường mà còn giúp tạo cơ hội cho doanh nghiệp phát triển công nghệ giảm phát thải và thúc đẩy một nền kinh tế trung hòa carbon. Việt Nam đang tiến gần hơn đến mục tiêu giảm phát thải và đóng góp vào cuộc chiến toàn cầu chống biến đổi khí hậu. Việc hình thành thị trường carbon là bước quan trọng trong hành trình này và sẽ cung cấp nhiều cơ hội quý báu cho đất nước.

Mua Tín Chỉ Carbon Không Đồng Nghĩa Với Phát Thải Tự Do

 

Chuyên gia định giá carbon, TS Trương An Hà, thuộc Tổ chức Sáng kiến về chuyển dịch năng lượng Việt Nam, đã đưa ra cảnh báo quan trọng: việc mua tín chỉ carbon không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc thoải mái phát thải khí nhà kính. Trong một số quốc gia, doanh nghiệp không được phép sử dụng tín chỉ carbon mua trên thị trường tự nguyện để bù đắp lượng phát thải vượt quá hạn ngạch, đặc biệt trên thị trường bắt buộc.

Chẳng hạn, thị trường trao đổi hạn ngạch ETS tại châu Âu đã phải đối mặt với những thách thức lớn khi nguồn cung cấp tín chỉ carbon tăng mạnh, dẫn đến giảm mạnh giá trị của chúng. Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến động lực đầu tư vào công nghệ giảm phát thải của các doanh nghiệp. Có vẻ rằng EU đã nhận ra vấn đề này và loại bỏ quy định này trong giai đoạn 4 của thị trường (2021-2030), cho phép doanh nghiệp mua tín chỉ carbon để đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải chung, nhưng không để bù đắp cho hạn ngạch phát thải.

Tại Việt Nam, Điều 19 Nghị định 06/2022/NĐ-CP đặt ra một số quy định liên quan đến việc sử dụng tín chỉ carbon từ các dự án thuộc các cơ chế trao đổi và bù trừ tín chỉ carbon. Tuy nhiên, vẫn giới hạn lượng tín chỉ được sử dụng và không được vượt quá 10% tổng số hạn ngạch phát thải được phân bổ. Điều này phản ánh cam kết của Việt Nam đối với việc giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt trong bối cảnh nước này đã gửi Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) đến Liên hiệp quốc với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 đến năm 2050.

 

Tiềm Năng Hàng Triệu USD Từ Tín Chỉ Carbon Rừng Việt Nam

 

Bên cạnh vấn đề quản lý phát thải khí nhà kính, tiềm năng kinh tế của tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam là một khía cạnh đáng chú ý. Mỗi năm, Việt Nam có khả năng bán ra thị trường thế giới 57 triệu tín chỉ carbon rừng với giá khoảng 5 USD/tín chỉ (tương đương 1 tấn CO2). Điều này có tiềm năng mang về hàng trăm triệu USD cho Việt Nam. Theo PGS-TS Phạm Văn Điển, Hiệu trưởng Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tiềm năng CO2 rừng ở Việt Nam là rất lớn và các tổ chức quốc tế như Emegent, SK, Quỹ Khí hậu xanh (GCF) đã bắt đầu chương trình đầu tư, môi giới, mua bán CO2 rừng.

Tuy nhiên, để phát triển thị trường CO2 rừng, Việt Nam cần phải hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng tiêu chuẩn Việt Nam về carbon theo hướng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Cần tiếp tục đo tính, giám sát và thẩm định lượng giảm phát thải và tăng hấp thụ khí nhà kính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Ngoài ra, sự tích cực của các địa phương, chủ rừng, các thành phần kinh tế trong việc hưởng ứng “Chương trình lâm nghiệp tăng trưởng xanh” và “Kế hoạch hành động Glasgow” cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường này.

Nguồn: SàiGònGiảiPhóng

Chuyên mục
Chứng chỉ Carbon NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

Tín chỉ carbon là gì? Lịch sử phát triển thị trường carbon.

Thị trường carbon được coi là công cụ chính để giảm phát thải khí nhà kính và đang phát triển nhanh chóng về thị phần giao dịch cũng như các tổ chức tham gia. Dưới đây là một số thông tin thú vị về tín chỉ carbon cũng như thị trường mua bán này.

Tín chỉ carbon là gì?

Tín chỉ carbon là thuật ngữ chung cho tín chỉ có thể kinh doanh hoặc giấy phép đại diện cho 1 tấn carbon dioxide (CO2) hoặc khối lượng của một khí nhà kính khác tương đương với 1 tấn CO2 (tCO2e). Việc mua bán sự phát thải khí CO2 hay mua bán carbon trên thị trường được thực hiện thông qua tín chỉ.

thi-truong-carbon
Lịch sử phát triển thị trường carbon

Thị trường carbon được bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, được thông qua vào năm 1997. Theo Nghị định thư Kyoto, các quốc gia có dư thừa quyền phát thải được bán cho hoặc mua từ các quôc gia phát thải nhiều hơn hoặc ít hơn mục tiêu cam kết. Từ đó, trên thế giới xuất hiện loại hàng hóa mới là các chứng chỉ giảm/hấp thụ phát thải khí nhà kính. Do carbon (CO2) là khí nhà kính quy đổi tương đương của mọi khí nhà kính nên các giao dịch được gọi chung là mua bán, trao đổi carbon, hình thành nên thị trường carbon hay thị trường tín chỉ carbon.

Hai loại thị trường carbon chính: thị trường carbon bắt buộc và thị trường carbon tự nguyện

Sau Nghị định thư Kyoto, thị trường carbon đã phát triển mạnh tại các quốc gia châu Âu, châu Mỹ và cả châu Á. Có hai loại thị trường chính là:

  • Thị trường carbon bắt buộc/Thị trường bắt buộc (mandatory carbon market): thị trường mà việc mua bán carbon dựa trên cam kết của các quốc gia trong Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) để đạt được mục tiêu cắt giảm khí nhà kính. Thị trường này mang tính bắt buộc và chủ yếu dành cho các dự án trong cơ chế phát triển sạch (CDM), Cơ chế phát triển bền vững (SDM) hoặc đồng thực hiện (JI).
  • Thị trường carbon tự nguyện/Thị trường tự nguyện (voluntary carbon market): dựa trên cơ sở hợp tác thỏa thuận song phương hoặc đa phương giữa các tổ chức, công ty hoặc quốc gia. Bên mua tín chỉ tham gia vào các giao dịch trên cơ sở tự nguyện để đáp ứng các chính sách về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) để giảm dấu chân carbon.

Các thị trường carbon lớn trên thế giới

Thị trường thương mại phát thải quốc tế đầu tiên là của Liên minh châu Âu, vận hành từ năm 2005. Đây là công cụ chính sách quan trọng bậc nhất của Liên minh châu Âu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, thực thi cam kết trong Nghị định thư Kyoto trước đây và sau này là Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Thị trường này chiếm khoảng 45% tổng lượng phát thải toàn châu Âu và khoảng 3/4 thị trường phát thải carbon toàn cầu.

Trung Quốc bắt đầu đề cập xây dựng thị trường carbon trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2015 và sau đó đã tiến hành thí điểm diện rộng tại các khu vực, thành phố với các mức độ kinh tế đa dạng khác nhau. Ngày 16/7/2021, thị trường giao dịch trao đổi carbon Trung Quốc đã chính thức vận hành nhằm đạt mục tiêu trung hòa carbon năm 2060.

thi-truong-carbon

Ảnh minh họa Internet

Việt Nam: Vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon kể từ năm 2025

Ngày 07/01/2022, Chính phủ ban hành Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon. Nghị định này có quy định cụ thể về lộ trình phát triển, thời điểm triển khai thị trường carbon trong nước. Trong đó, giai đoạn đến hết năm 2027 sẽ: Xây dựng quy định quản lý tín chỉ carbon, hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon; xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon; Triển khai thí điểm cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong các lĩnh vực tiềm năng và hướng dẫn thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Thành lập và tổ chức vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon kể từ năm 2025; Triển khai các hoạt động tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về phát triển thị trường carbon.

Giai đoạn từ năm 2028, sẽ: Tổ chức vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon chính thức trong năm 2028; Quy định các hoạt động kết nối, trao đổi tín chỉ carbon trong nước với thị trường carbon khu vực và thế giới.

 

carbon_credits_infographic