







Mật ong tươi Hoa Tràm đến từ trại ong của chú Năm – là người đã có kinh nghiệm làm trại ong hơn 6 năm tại Thuận Bình, Thạnh Hóa, Long An. Đây là khu vực rừng tràm phòng hộ thuộc quản lý của Bộ Quốc Phòng. Được bao bọc bởi hàng ngàn héc ta rừng tràm xung quanh, trang trại ong của chú Năm nằm hoàn toàn cách ly. Phạm vi di chuyển của 1 chú ong trung bình bán kính khoảng 2-3km. Trong bán kính bay như vậy người nuôi ong không thể kiểm soát được quỹ đạo bay của chúng nên ong mật sẽ lấy phấn hoa của tất cả các loại hoa trong quỹ đạo bay của chúng. Nên với địa hình như vậy, đảm bảo ong chỉ lấy mật từ hoa tràm ( được chăm sóc hoàn toàn tự nhiên ) nên hoàn toàn không dính thuốc BVTV từ các loại hoa màu canh tác khác. Đây cũng chính là lí do FoodMap Team sau nhiều lần khảo sát nguồn cung mật ong từ nhiều nơi và quyết định chọn nơi này để làm chiến dịch mật ong lần này.
1. Ong mật là những loài thụ phấn quan trọng cho hoa, trái cây và rau cải. Điều này có nghĩa là chúng giúp các thực vật khác phát triển! Con ong chuyển phấn hoa giữa hoa, giúp cây cho quả và hạt.

2. Ong mật sống trong tổ ong. Các thành viên của tổ được chia thành ba loại:
Ong chúa: Công việc của ong chúa lá sinh sản những quả trứng, trứng nở thành ong con. Ong chúa cũng sản xuất hóa chất hướng dẫn hành vi của ong khác. Ong chúa có thân dài 20 – 25 mm. Cánh ngắn, kim châm ngắn.
Ong thợ: Tất cả đều là ong cái và vai trò của chúng là để kiếm thức ăn (hoa phấn và hoa quả từ hoa), xây dựng và bảo vệ tổ, làm sạch và luân chuyển không khí bằng cách đánh đôi cánh. Ong thợ là những con ong duy nhất mà hầu hết mọi người nhìn thấy bay quanh bên ngoài tổ. Ong thợ là những con ong cái mà bộ phận sinh dục bị thoái hoá, không có khả năng thụ tinh. Ong thợ thực hiện tất cả công việc của đàn ong: bảo vệ tổ, sản sinh sữa chúa để nuôi ấu trùng, hút mật hoa luyện thành mật ong.

Ong đực: Đây là những con ong đực, và mục đích của chúng là kết hợp với ong chúa tạo ra con mới. Ong đực có thân dài 15 – 17 mm. Không có ngòi châm, cánh lớn.
3. Lượng mật ong mỗi con ong hút về cả cuộc đời nó (từ 5 đến 6 tuần) chỉ được khoảng 1/10 muỗng cà phê.

4. Nếu ong chúa chết, ong thợ sẽ tạo ra một ong chúa mới bằng cách chọn một ấu trùng trẻ (những con côn trùng mới nở) và cho nó một thức ăn đặc biệt gọi là “sữa ong chúa”. Điều này cho phép ấu trùng phát triển thành một ong chúa mới có khả năng sinh sản.

5. Một con ong cần phải tìm 4.000 bông hoa để tạo nên đủ một thìa mật ong.

6. Mỗi con ong có thể phân biệt 170 mùi, có nghĩa là chúng có một khứu giác đặc biệt! Chúng sử dụng thông tin này để liên lạc trong tổ và để nhận ra các loại hoa khác nhau khi tìm kiếm thức ăn.

7. Ong thợ sống trung bình chỉ khoảng 5 đến 6 tuần. Ong mật khi đốt người thì sẽ lưu lại ngòi trên da người, như vậy ong sẽ chết.

8. Ong chúa có thể sống đến năm năm. Nó bận rộn nhất trong những tháng hè, nó có thể đẻ2.500 quả trứng một ngày!

9. Một con ong thợ thường bay xa tổ khoảng 2 – 3 km để tìm mật và trên chặng đường này, chúng thường ghé qua 100 nụ hoa trước khi về tổ.

10. Ong mật có thể bay khoảng 24km/h với tần số vỗ cánh khoảng 11000 lần/phút.

Nguồn : sưu tầm
Anh Nguyễn Trung Duy (sinh năm 1979) ở xã Phước An, huyện Krông Pắc (Đắk Lắk) đã nghiên cứu áp dụng mô hình lấy vỏ cà phê, trấu, mụn xơ dừa và các phế phẩm nông nghiệp làm đất sạch, phục vụ canh tác cây trồng.
Bên cạnh đó, anh còn trồng rất nhiều cây cảnh có giá trị. Anh là người tiên phong ở địa phương làm giàu từ mô hình kết hợp này, với mức thu nhập mỗi năm 700 triệu đồng.

Đầu năm 2016, được sự giúp đỡ của Trạm Khuyến nông huyện Krông Pắc, anh Duy đã nghiên cứu làm đất sạch từ các phụ phẩm nông nghiệp, không tốn nhiều chi phí, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đồng thời còn tạo ra nguồn phân bón giá rẻ có thể thay thế từ 30-70% phân hoá học.
Theo anh, cứ 10 tấn vỏ cà phê thì thuê khoảng 8 công lao động từ khi ủ đến khi thành đất sạch, thời gian ủ 50 – 60 ngày. Trong khi đó, vỏ cà phê không được ủ thì phải mất gần 2 năm mới có thể đem bón cho cây.
Từ việc ứng dụng quy trình làm đất sạch, anh đã thu mua vỏ cà phê, cùi ngô, trấu trong huyện và mụn xơ dừa ở Bình Định, các tỉnh miền Tây để chế biến. Hiện anh đã thành lập Công ty TNHH Sản xuất và Dịch vụ đất sạch Duy Nhất. Trung bình mỗi năm sản xuất khoảng 100 tấn, giá bán 2,5 – 3 triệu đồng/tấn. Khách hàng chủ yếu ở Đắk Nông, Gia Lai…, tạo công ăn việc làm cho 10 lao động, với mức thu nhập mỗi người từ 5 – 7 triệu đồng/người/tháng.

Ông Y Thim Niê (ở Buôn Pan, xã Ea Yông) trồng hơn 2 ha cà phê, cho biết: “Từ khi sử dụng đất sạch của anh Duy, sản lượng cà phê nhân tăng lên đáng kể”.
Để biến những phụ phẩm nông nghiệp thành đất sạch, anh Duy còn sử dụng cả chất thải từ chăn nuôi, như phân heo, bò, dê, gà… ủ với men Trichoderma và than sinh học (được đốt từ trấu, lá cây, rác). Đối với những hộ chăn nuôi nhiều, anh đến tận nhà để ủ, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường xung quanh.
Ngoài sản xuất đất sạch, anh Duy còn mở rộng vườn cây cảnh lên 1.000m2 với nhiều loại cây cảnh bon sai các loại được ưa chuộng như linh sam, hải châu… có giá trị kinh tế từ 3 triệu đồng lên đến trên 150 triệu đồng. Mỗi năm, từ cây cảnh sau khi trừ chi phí gia đình anh có thu nhập trên 200 triệu đồng/năm.
Nguồn: TIẾN DŨNG
(Trường THPT Thực hành Cao Nguyên – Trường Đại học Tây Nguyên)
Sản xuất và tiêu thụ rau quả trên thế giới và tại Việt Nam không chỉ quan trọng về mặt kinh tế mà còn là vấn đề sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng. Đặc biệt những loại rau ăn quả mang lại giá trị kinh tế to lớn và thúc đẩy các hướng nghiên cứu mà dưa lưới là một trong số đó.
Một số giống dưa lưới phổ biến tại Việt Nam 



Mụn xơ dừa và hồ chứa để xử lý.



Sử dụng ong mật thụ phấn cho dưa lưới trồng trong nhà màng.

Bấm ngọn chính khi cây được 23 – 25 lá. Bấm ngọn bên, bấm chừa lại 2 lá.
Loại sâu hại dưa lưới trồng trong nhà màng chủ yếu là bọ trĩ (Thrips palmi Karny) và bọ phấn (Bemisia tabaci). Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô, gây hại nặng giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái. Bọ phấn hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, hút nhựa làm cây có thể bị héo, ngã vàng và chết; truyền các bệnh virus. Để phòng, trừ có thể dùng bẫy dính; thiên địch nhện nhỏ (Amblyseius cucumber), bọ xít (Orius sauteri và Orius strigicolly), phun thuốc bảo vệ thực vật; vệ sinh vườn trồng, v.v…

Thành trĩ (Thrips palmi Karny). Thành trùng Bọ phấn (Bemisia tabaci).
Một số bệnh phổ biến gây hại dưa lưới như bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe cichoracearum De Candolle hại lá, thân, cành ngay từ thời kỳ cây con; bệnh sương mai giả do nấm Pseudoperonospora cubensis, gây hại trên tất cả các bộ phận nhưng phổ biến nhất là lá; bệnh nứt thân chảy nhựa do nấm Mycosphaerella melonis, gây hại chủ yếu trên thân, đôi khi trên lá và cuống quả, gây nứt, chảy nhựa, cây có thể bị khô chết. Cách phòng trừ là vệ sinh đồng ruộng, thu dọn sạch tàn dư thân lá bị bệnh, tiêu diệt cỏ dại, mật độ trồng hợp lý, bón phân cân đối N-P-K; phun thuốc kịp thời khi phát hiện bệnh,…

Triệu chứng của bệnh phấn trắng Triệu chứng của Mycosphaerella melonis.(Erysiphe cichoracearum).


Thời điểm nứt cuống – 58 ngày. Thời điểm đứt cuống – 65 ngày.
Theo các diễn giả trong buổi “Báo cáo phân tích xu hướng công nghệ” tháng 07/2014 tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ TP. HCM (CESTI) với chuyên đề “Sản xuất rau quả ứng dụng công nghệ cao – Mô hình nhà kính nhà lưới (nhà màng)” cho biết thị trường dưa lưới thế giới cũng như trong nước cầu lớn hơn hẵn cung. Hiện chỉ có vài công ty ở phía Nam sản xuất dưa lưới nhưng quy mô nhỏ và tiêu chuẩn sản xuất chưa cao nên chưa thể đáp ứng cho các thị trường như Nhật Bản (giá gấp đôi trong nước) mà chỉ có thể cung cấp một phần nhu cầu trong nước, tiêu thụ chủ yếu tại các siêu thị.
BĐ 1: Tình hình đăng ký bảo hộ SC liên quan dưa lưới từ năm 2000-2013

BĐ 2: Các nước có nhiều đăng ký bảo hộ SC liên quan đến dưa lưới

BĐ 3: Đăng ký bảo hộ SC BĐ 4: Phát triển đăng ký bảo hộ SC liên quan đến dưa
liên quan đến dưa lưới lưới theo lĩnh vực
theo lĩnh vực


* Nguồn: ANH THY – CESTI, theo STINFO.
Điện toán đám mây, máy bay không người lái hay đeo thẻ điện tử cho gia súc là những công nghệ hiện đại đang được nhiều nước ứng dụng trong nông nghiệp công nghệ cao.
Ứng dụng tưới tiêu trên Smartphone

Một trong những công việc quan trọng của người nông dân là đảm bảo lượng nước phù hợp cho cây trồng, đặc biệt trong điều kiện không có mưa. Loạt ứng dụng trên điện thoại di động tên là ‘tưới tiêu thông minh’ đã giúp họ giải quyết được vấn đề này.
Ứng dụng này sử dụng công nghệ định vị GPS, dự đoán lượng nước cây cần, phân tích dữ liệu trên cơ sở tính toán điều kiện thời tiết, lượng mưa của địa phương và lập trình để đưa ra công thức lượng nước phù hợp nhất theo từng thời điểm trong mỗi ngày cho cây trồng.
Điện toán đám mây

Công nghệ điện toán đám mây được ứng dụng và phát triển ở nhiều ngành, nhiều khu vực khác nhau, và cũng rất phổ biến trong nông nghiệp. Theo thống kê, hiện trên 30% nông trại khu vực Châu Âu và Châu Mỹ đã sử dụng công nghệ này, bao gồm những lưu trữ dữ liệu tồn kho, lịch trình sử dụng thiết bị, mô hình thời tiết và năng suất cây trồng…
Các thông tin được lưu giữ trên máy chủ và người sử dụng có thể đồng bộ hóa dữ liệu của họ trên các máy tính hay các loại máy móc khác nhau, tận dụng những phần mềm tùy chỉnh để có những nhận định chính xác về những gì đang diễn ra trong các nông trại của họ.
Máy bay không người lái

Máy bay không người lái trong Nông nghiệp CNC thường được thiết kế hình dạng như trực thăng hay đĩa bay loại nhỏ và có thể được kích hoạt tự động qua GPS.
Trên máy bay có gắn các cảm ứng và máy ảnh được đặt chế độ chụp tự động, ngẫu nhiên, cho phép quan sát, theo dõi các điều kiện của đất, nước, cây trồng ở góc độ mắt thường không nhìn thấy được và đưa ra những cảnh báo khi cần thiết.
Các loại cảm ứng, bao gồm cảm ứng đo nồng độ Nitơ

Nitơ là một thành phần quan trọng trong phân bón, cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho cây trồng. Khi hấp thụ Nitơ từ phân bón, cây trồng sẽ xử lý và chuyển khí Nitơ ra ngoài không khí.
Tuy nhiên lượng Nitơ trong phân bón không được cây hấp thụ hết sẽ không thể tự bay đi mà đọng trong nước ngầm, không chỉ gây ra hậu quả xấu như biến đổi khí hậu mà còn có nguy cơ làm chết cá và các động thực vật thủy sinh khác. Hơn thế quá nhiều Nitơ cũng khiến cây trồng yếu đi.

Vì thế người ta đã sáng chế ra nhiều loại cảm ứng Nitơ được gắn các cảm biến quang học đo sức khỏe của cây, giúp nhà nông sử dụng lượng phân bón phù hợp.
Bộ cảm biến sẽ bắn các tia hồng ngoại và ánh sáng đỏ ra cánh đồng và đo lượng ánh sáng cây trồng phản chiếu lại. Ánh sáng phản chiếu càng mạnh nghĩa là cây càng khỏe và ngược lại, ánh sáng yếu tức là cây cần thêm phân bón.
Ngoài ra là hàng loạt cảm ứng được sử dụng trong thời gian gầy đây giúp việc đánh giá, quản lý cây trồng và gia súc dễ dàng hơn rất nhiều, chẳng hạn cảm ứng đo độ ẩm, không khí, hướng gió, thành phần đất…
Thẻ điện tử

Ngày nay ở nhiều trang trại, người ta thường cấy lên người gia súc các thẻ điện tử để quản lý gia súc. Các thẻ này có chip nhận dạng tần số vô tuyến, kết nối với các ăng-ten đặt trên các khay thức ăn giúp người nông dân nắm được chi tiết mỗi gia súc đã ăn được bao nhiêu và ăn lúc nào.
Thông thường khi gia súc thay đổi chế độ ăn chính là dấu hiệu sức khỏe của chúng có gì đó không ổn. Tương tự như vậy, người ta lắp máy đếm bước vào mắt cá chân của bò để biết được chúng đã đi dạo hay đứng yên bao lâu, đây là dấu hiệu khá quan trọng cho thấy bò đang nóng và cũng có thể chỉ ra các vấn đề về sức khỏe của bò.
Việc nắm được tình trạng sức khỏe bò, đặc biệt phát hiện ra ngay khi bò bị những bệnh như lở mồm long móng, bò điên, bệnh lây nhiễm… có ý nghĩ rất lớn, giúp người nông dân có thể cách ly và xử lý kịp thời, không gây ảnh hưởng tới cả đàn gia súc.
Bột chịu hạn

Loại bột này có cơ chế giống như tã (bỉm) của em bé, hiện được sử dụng khá rộng rãi ở những khu vực thường gặp hạn hán hay quá khô như Mexico, các nước Nam Mỹ, các nước vùng sa mạc.
Một cục bột có thể hấp thụ và giữ một lượng nước lớn gấp 500 lần thể tích của nó. Cụ thể, 10 g bột từ loại nhựa polymer có thể hút cạn 1 lít nước. Khi ngậm đủ nước, các hạt nhựa này chuyển thành dạng keo đục, giữ nước bên trong và nước không hề bị bốc hơi hay ngấm xuống đất mà chỉ giảm đi khi có rễ cây cắm vào tiêu thụ.
Sau khi hết hạn sử dụng, hạt tinh thể này tan ra và không hề ảnh hưởng xấu đến đất trồng. Sử dụng loại bột này cũng giúp tăng lượng cây trồng trên cùng một diện tích đất lên đến 300%.
Công nghệ nhà kính

Đây là một trong những loại công nghệ được áp dụng phổ biến nhất trong nông nghiệp, bạn có thể dễ dàng gặp nhà kính ở các nông tại từ châu Á đến Âu, Mỹ, Phi, Úc.
Nhà kính thường có các cạnh và mái được làm bằng nilon, nhựa hoặc kính, có khả năng tự nóng lên do bức xạ nhìn thấy được của mặt trời (tia cực tím, tia tử ngoại, tia UV) khi đi qua lớp kính trong suốt bị hấp thụ bởi thực vật, đất đai và những vật thể khác bên trong nhà kính, nhiệt từ những bề mặt nóng bên trong được giữ lại bởi tường kính và làm không khí bên trong ấm lên.
Hơn thế, cây cối và cấu trúc bên trong nhà kính sau khi được làm ấm lại bức xạ một lần nữa nhiệt năng của chúng trong dải quang phổ hồng ngoại, và tác động lên nhiệt độ, môi trường bên trong nhà kính.

Nuôi trồng trong nhà kính có thể cho năng suất cao gấp 50 lần so với nuôi trồng trong môi trường truyền thống ngoài trời.Dễ thấy nhà kính có rất nhiều ưu điểm, như tránh được điều kiện khí hậu bất lợi, đảm bảo luôn giữ được môi trường ổn định cho cây trồng vật nuôi, chống côn trùng, bệnh tật lây lan…
Đặc biệt chỉ cần kết hợp với một số ứng dụng công nghệ khác như công nghệ gene, nhân giống, quang học, cảm biến…
Công nghệ đèn LED

Bên cạnh nhà kính, đèn LED cũng là một trong những công nghệ được sử dụng ngày càng nhiều trong nền NNCNC.
Chúng ta đã biết, ánh sáng có nhiều tác động đến tốc độ sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi.
Do đó, người ta sử dụng công nghệ đèn LED để điều chỉnh ánh sáng phù hợp cho cây trồng, vật nuôi tùy theo thời điểm nhất định, nhằm kích thích tăng trưởng, tăng giá trị dinh dưỡng, giảm nồng độ Nitrat trong rau quả, hay để ươm giống cây, thu hút côn trùng gây hại mùa màng, chiếu sáng dẫn dụ trong đánh bắt hải sản, thay đổi nhịp sinh học nhằm kích thích sinh trưởng đối với vật nuôi…
Các ứng dụng công nghệ sinh học

Ngành nông nghiệp là một trong những ngành tận dụng được nhiều hiệu quả của công nghệ sinh học. Có thể nói Nông nghiệp CNC bao gồm một phần ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, với mục đích tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao hơn.
Chẳng hạn công nghệ vi nhân giống cho phép lựa chọn và thuần hóa thực vật, công nghệ chuyển gene thực vật để phát triển trong môi trường cụ thể với sự hiện diện hay không hiện diện của hóa chất, hay kỹ thuật chuyển gen kháng sâu bệnh vào thực vật, do đó không cần phải sử dụng quá nhiều chất bảo vệ thực vật …
Có hàng triệu ứng dụng công nghệ sinh học lên các đối tượng gia súc và cây trồng đã được sử dụng trong nền Nông nghiệp CNC hiện nay.
* Nguồn: Đ.K. Hà
Theo người dân địa phương, tỏi Lý Sơn có vị thơm đặc biệt, chất dinh dưỡng cao, có nhiều hoạt chất giúp tăng cường hệ miễn dịch, phòng chống ung thư, nâng cao sức khỏe. Hiện nay có nhiều loại tỏi trồng ở nơi khác được một số người mang đến Lý Sơn để bán với mục đích “ăn theo” tỏi Lý Sơn. Do đó, nhiều người khi đến đảo Lý Sơn đã mua nhầm tỏi thường vì không phân biệt được với tỏi Lý Sơn.

Mới đây, trong dịp thăm quan Lý Sơn, chúng tôi được nghe những người gắn bó với nghề trồng và buôn bán tỏi lâu năm ở Lý Sơn chỉ cách phân biệt loại tỏi Lý Sơn này với các loại tỏi khác. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng, một người đã gắn với nghề trồng tỏi hơn 50 năm qua ở Lý Sơn cho biết: “Nếu nhìn kỹ, chúng ta thấy củ tỏi Lý Sơn có kích thước từ 2cm đến 5cm, vỏ trơn, láng, vân nhỏ màu vàng nhạt ít nổi lên trên bề mặt. Trong khi các loại tỏi khác có kích thước to hơn, vân màu vàng đậm hơn. Bộ rễ tỏi Lý Sơn nhiều và chiếm diện tích hơn. Cùi rễ to, nhô ra bên ngoài, cọng rễ tỏi thật có màu đen hay vàng đậm, cọng to và dai”.

Còn theo chị Nguyễn Thị Hóa, một người nhiều năm buôn bán tỏi cho khách du lịch tại huyện đảo Lý Sơn, ở đây có loại tỏi cô đơn, hay còn gọi là tỏi một tép. Loại tỏi này được hình thành từ sự đột biến gen trong quá trình sinh trưởng. Trên một sào trồng tỏi, chỉ thu hoạch được tối đa được vài ba ký tỏi cô đơn. Vì vậy, tỏi cô đơn thường có giá bán rất cao, khoảng 1,2 triệu đồng/kg.
Chị Hóa cho biết: “Tỏi cô đơn có vị thơm nồng, nhưng không gây hôi ở miệng sau khi ăn. Loại tỏi này màu trắng, nhỏ hơn đầu ngón tay út, hình bầu dục. Tỏi cô đơn cũng được xem là dược liệu quý, có thể chữa nhiều bệnh như: Cảm cúm, dạ dày, tim mạch, thận… Chính vì sự khác biệt này mà giá của loại tỏi này ở mức cao”.
Tỏi Lý Sơn đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý vào ngày 10/12/2007. Hiện nay ở Lý Sơn có khoảng 300 ha đất được thường xuyên sử dụng để trồng tỏi, với sản lượng đạt khoảng 3.000 tấn/năm.
Nguồn: Ngọc Lê
—
Để hiểu hơn về tỏi Lý Sơn, mời các bạn cùng FoodMap đến tham quan huyện đảo Lý Sơn nhé:
Khi mới bắt đầu thử nghiệm dùng các loại củ, quả để tạo ra một loại thuốc để trị bệnh cho rau, nhiều người trong vùng cho rằng, ông Ngô Duy Hợp (tỉnh Bình Phước) bị “khùng” nặng. Họ nói: “Các loại củ, quả sao có thể thành thần dược trị bệnh sâu rầy cho rau được. Trong khi đó các loại thuốc hóa học được bày bán rất nhiều, ngồi đó cọc cạch thái thái, giã giã làm gì cho mất công…”.
Mặc cho mọi người nói gì, lão nông dân ấy vẫn cần mẫn, miệt mài, học hỏi để tìm ra một phương thuốc mới phòng trị bệnh cho rau. Và, lão đã chế thành công “thần dược” trị bệnh cho rau sạch từ các loại củ, quả. Lão nông ấy chính là Ngô Duy Hợp, 60 tuổi, ngụ khu phố Bình Thiện, phường Tân Thiện, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Đầu tư tiền tỷ trồng rau sạch
Là cán bộ chuyên ngành rau công tác tại ngành Nông nghiệp huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (nay đã nghỉ hưu), ông Ngô Duy Hợp có điều kiện tiếp xúc với nhiều người trồng rau trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, ông Hợp vẫn không yên tâm với cách canh tác của người nông dân như hiện nay, vì phải sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học…

Dù đã nhiều lần chuyển giao kỹ thuật trồng rau an toàn cho các hộ trồng rau nhưng nhiều hộ vẫn không thay đổi cách trồng. Do đó, ông Hợp đã “ấp ủ” cho riêng mình một vườn rau an toàn, với mong muốn người dân sẽ học hỏi theo cách làm của ông.
Trong một lần tình cờ đi tham quan mô hình trồng rau theo phương thức thủy canh trên địa bàn tỉnh Bình Phước, ông Hợp đã bị cuốn hút với cách trồng rau an toàn trong nhà kính. Đầu năm 2014, ông Hợp quyết định đầu tư gần 1 tỷ đồng xây dựng màng lưới nhà kính trên diện tích 2.000m2 để trồng rau theo phương pháp an toàn.
Ông Hợp cho biết, việc trồng rau trong nhà kính có thể hạn chế được sâu bệnh xâm nhập. Qua đó, tỉ lệ thuốc bảo vệ thực vật sẽ giảm hơn một nửa so với trồng rau ngoài trời, đồng thời có thể trồng rau được quanh năm không phụ thuộc vào thời tiết, đặc biệt giúp rau đạt năng suất cao, đảm bảo rau an toàn tuyệt đối.
Cùng với đó, hệ thống này có thể tự động điều chỉnh độ ẩm bên trong. Khi nhiệt độ lên cao thì hệ thống phun sương trong nhà kính sẽ tự động bật lên để làm mát. Lúc này hệ thống quạt đối lưu sẽ tự kích hoạt để làm giảm bớt độ ẩm.
Trường hợp thời tiết bất thường như trời quá nắng, hệ thống màng cản quang sẽ tự động kéo ra và khi có mưa, hệ thống cũng sẽ tự động di chuyển để kéo mái không cho mưa lọt vào bên trong nhà kính. Sử dụng hệ thống này có thể tiết kiệm được nhân công lao động, giảm chi phí sản xuất.
Đến chế thuốc “thần dược” từ củ, quả
Không những đầu tư tiền tỷ xây dựng màng lưới nhà kính để trồng rau an toàn, ông Hợp còn khiến chúng tôi ngạc nhiên với cách phòng trừ sâu bệnh trên cây rau bằng các loại củ, quả như: hành, tỏi, ớt, gừng, vỏ cam, rau đã hư, dưa hấu…

“Nhờ sử dụng phương thuốc mới này, vườn rau của gia đình tôi vừa hạn chế sâu bệnh gây hại, vừa giảm giá thành chi phí sản xuất và nhân công lao động. Bình quân mỗi ngày tôi xuất bán ra thị trường hơn 20kg rau với giá bán từ 20.000-25.000 đồng/kg” – ông Hợp nói
Ông Hợp cho biết: “Hơn 2 năm về trước tôi được một người bạn giới thiệu về phương pháp sử dụng men sinh học E.M để ủ các loại củ, quả… thành thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cho rau. Sau 2 năm thử nghiệm trên cây cao su, điều, đến tháng 7/2014 tôi quyết định hướng tới trồng rau sạch theo phương pháp này”.
Ông Hợp giải thích, chế phẩm men sinh học E.M là phương pháp sản xuất theo công nghệ vi sinh lên men các vi sinh vật có ích (vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, xạ khuẩn và nấm men) sống cộng sinh trong cùng một môi trường có hiệu quả tác động như: bổ sung vi sinh vật cho đất; cải thiện môi trường, tiêu diệt tác nhân gây bệnh, sâu hại trong đất; tăng năng suất, chất lượng vườn rau, đặc biệt an toàn cho người lao động.
Để thực hiện phòng trừ sâu bệnh và tăng cường chất dinh dưỡng, từ khâu làm đất cần tăng tỷ lệ tỏi trong hỗn hợp lên men để tăng sức đề kháng cho rau sau này. Theo ông Hợp, tỏi vốn có chất đề kháng tự nhiên cao, do đó sử dụng tỏi giúp phòng ngừa sâu bệnh hại và tăng cường chất dinh dưỡng cho đất.

Cận cảnh thuốc “thần dược” phòng trị bệnh cho rau được ông Hợp chế biến từ các loại củ, quả đã lên men…
Khi rau đã lớn, ông Hợp sử dụng công thức 50cc hỗn hợp chế phẩm sinh học E.M đã được ủ lên men với các loại củ, quả hòa trong 20 lít nước để sử dụng cho 1 sào rau. Nếu thấy vườn rau bị sâu bệnh hại tấn công sẽ tăng số lượng các loại như hành, ớt, tỏi, sả, gừng… có tính khử trùng để diệt trừ sâu bệnh. Trung bình mỗi tuần, ông Hợp phun xịt cho vườn rau từ 1 đến 2 lần.
“Nhờ sử dụng phương pháp này, vườn rau của gia đình tôi vừa hạn chế sâu bệnh gây hại, vừa giảm giá thành chi phí sản xuất và nhân công lao động. Bình quân mỗi ngày tôi xuất bán ra thị trường hơn 20kg rau với giá bán từ 20.000-25.000 đồng/kg. Nếu ai quan tâm, tôi sẽ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao kỹ thuật ủ lên men này” – ông Hợp nói.
Ông Ngô Duy Hợp cho biết, cách làm loại thuốc trừ sâu thủ công này làm rất đơn giản trước hết bà con mua chế phẩm men sinh học E.M (trên thị trường có bán). Trước hết, bà con đổ nước vào khoảng 1/2 thùng chứa có nắp đậy (tùy thuộc vào thể tích thùng chứa), sau đó bỏ các loại củ, quả như hành, tỏi, ớt, cam, quýt, dưa hấu… vào thùng rồi đổ chế phẩm lên men sinh học E.M vào (tùy liều lượng người sử dụng).
Tiếp đến, bà con dùng tay đảo đều các loại hỗn hợp này lại, sau khi trộn đều bà con đẩy nắp kín tránh không khí lọt vào. Sau đó bà con ủ với thời gian khoảng 3-5 ngày là đưa ra sử dụng được. Nếu vườn rau bị sâu bệnh gây hại tấn công bà con có thể bổ sung thêm các loại quả có tính khử trùng như hành, ớt, tỏi…vào rồi phun cho rau. Cách sử dụng, bà con dùng 50cc chế phẩm sinh học đã lên men (vớt bả) hòa với nước rồi phun trực tiếp trên phần rau bị sâu bệnh tấn công.
Theo ông Lê Hoàng Anh – Chủ tịch Hội nông dân phường Tân Thiện, thành phố Đồng Xoài, loại thuốc trừ sâu được chế biến từ hành, tỏi, ớt… này không ảnh hưởng đến môi trường và không để lại dư lượng trên cây trồng. Thuốc tác động đến côn trùng gây hại bằng cách gây sự ngán ăn, xua đuổi, ngăn sự lột xác của côn trùng cũng như ngăn cản sự đẻ trứng và giảm khả năng sinh sản.
Theo nguồn: danviet.vn
Nhật Bản được xem như cái nôi của sự phát triển công nghệ thế giới. Trong đó, nông nghiệp công nghệ cao Nhật Bản chính là tấm gương sáng mà một đất nước đi lên từ cây lúa như Việt Nam cần noi theo. Chúng ta cùng xem những điều thú vị và những bước đột phá của nông nghiệp công nghệ cao ở Nhật Bản nhé.

Tại Nhật, phần lớn đồng bằng nông nghiệp trước đây đã dần được đưa vào phát triển đô thị trong khi các sườn núi ở Nhật Bản lại quá dốc để tiến hành canh tác. Nông nghiệp tại đây dường như gặp khó khăn hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Nhật cũng là nước phải hứng chịu nhiều trận bão dữ dội và tuyết rơi trong năm khiến cho hoạt động nông nghiệp đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Mặc dù khó khăn bội phần, nhưng con người ở đây lại vô cùng tuyệt vời khi biết cách đưa công nghệ vào hoạt động trồng trọt. Nông nghiệp công nghệ cao ở Nhật Bản dần trở thành bản sắc khi nhắc đến đất nước này. Từ những mô hình trồng rau nhà kính đến công nghệ chăn nuôi bò sữa khép kín, tất cả đều được ứng dụng máy móc công nghệ hiện đại giảm tối đa sức lực cho người lao động. Chính nhờ thế mà dù có gặp khó khăn về địa hình và thời tiết thì nông nghiệp Nhật Bản cũng phát triển top đầu trên thế giới. Diện tích đất canh tác không lớn nhưng hiệu quả và năng suất thu về thì đáng kinh ngạc.

Theo tin tức nông nghiệp thế giới, Nhật Bản phát triển nông nghiệp theo hướng khoa học công nghệ cao, bền vững có sản lượng và chất lượng đứng top đầu thế giới.
Ibaraki là một trong những tỉnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Nhật Bản. Đây là vùng có diện tích đất đồng bằng lớn nhất hội tụ đủ các điều kiện thuận lợi để nghiên cứu, phát triển và sản xuất nông sản sạch. Theo thống kê mới nhất, chỉ riêng ngành nông nghiệp đã đóng góp tới 110tỷ USD/năm (hơn 50% GDP toàn vùng) mặc dù tổng dân số tỉnh Ibaraki chỉ khoảng 3 triệu người.
Sự hiệu quả của nông nghiệp công nghệ cao Nhật Bản được thể hiện ở chỗ chỉ 3% dân số tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp nhưng đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho hơn 1278 triệu dân. Ngoài ra, hàng năm Nhật Bản vẫn xuất khẩu một lượng nông sản sạch cho các thị trường quốc tế.

Đến thăm những trung tâm nghiên cứu nông nghiệp công nghệ cao ở Nhật Bản, đập vào mắt chúng ta là không gian sạch đẹp như một công viên. Ghé thăm bên trong là những nhà kính nuôi trồng thử nghiệp giống cây trồng mới: dưa hấu vuông, dâu tây mini, cà chua đa sắc màu… Các giống cây trồng mới được nghiên cứu và lai tạo dựa trên nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng giúp tăng nhiều lần giá trị của nông sản.
Trước tiên, cần khẳng định hướng đi của nông nghiệp Nhật Bản là đúng đắn, tối ưu công suất lao động và tăng năng suất, chất lượng thu hoạch. Như vậy, Việt Nam cần có cơ chế khoa học công nghệ hiện đại để có thể phát triển như Nhật Bản. Bên cạnh đó, chúng ta cần học hỏi và hợp tác để chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Nhật Bản.
Người dân Nhật Bản làm nông nghiệp không hề vất vả, họ giống như những ông chủ của một doanh nghiệp, mượn sức máy móc để nâng cao hiệu suất và giảm tải gánh nặng cho con người. Nếu Việt Nam muốn phát triển nông nghiệp bền vững thì hướng đi nông nghiệp công nghệ cao ở Nhật Bảnchính là hướng đi đúng đắn mà chúng ta cần noi theo.
* Nguồn: Theo tinnongnghiep.com